T5, 08 / 2017 2:19 sáng | nguyenhongky1992

(Văn mẫu lớp 11) – Anh (Chị) hãy Phân tích bài thơ Đây Mùa Thu Tới của Xuân Diệu. ( Bài luận hay của học sinh trường THPT Chu Văn An).

Đề bài: Phân tích bài thơ “Đây mùa thu tới”.

Bài làm

“Thu tới trong vườn bên, 

Ngợ ngàng màu cúc mới. 

Đêm qua bên láng giềng, 

Êm tựa nhàn, thu tới”. 

Bốn câu thơ trên nằm trong bài thơ “Thu” của tác giả Huy Cận, một trong những tác phẩm nổi tiếng viết về mùa thu của Việt Nam. Thu không của riêng ai, nhưng tại sao thu trong thi ca lại đa sắc, đa dạng, lại vui, buồn, sầu đến vậy. Những ca từ, tiếng hát cất lên từ trái tim người nghệ sĩ lại khiến người nghe hoang hoải đến lạ thường. Có chút gì đó dấm dứt, không quá nóng bỏng như hè nhưng cũng chả băng giá như đông, có chút gì đó thật khó diễn tả… Thu có gì cuốn hút đến vậy, mà nhiều nhà thơ nổi tiếng phải ngả bút tự trào thành các thi phẩm? Phải rồi, làm gì có tâm hồn thi thơ nào lại không rung động trước mùa thu được chứ? Nhưng mùa thu đã đi vào những hồn thơ của các nhà thơ ấy như thế nào, liệu có cùng chung một tâm trạng: buồn bã và ly biệt như hình ảnh của chiếc lá lìa cây khi mùa thu đến?

Tiếng thu ở mỗi người, trong mỗi thời đại lại mang những màu sắc khác nhau, tạo nên vô vàn những bức tranh thu mà trong đó cảnh thu, tình thu đều thật đẹp, thật độc đáo. Bài thơ “Đây mùa thu tới” của nhà thơ Xuân Diệu được coi là một trong những đỉnh cao của thơ thu Việt Nam. Cảm hứng về tiết thu trong bài thơ này cổ truyền nhưng cũng luôn hiện đại.

Bài thơ có bốn đoạn, 16 câu. Hai đoạn tả cảnh, một đoạn tả hoa – lá – cành, một đoạn tả trăng – sương – gió, cấu trúc bài thơ rất hài hoà.

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

Xuân Diệu đã thật khéo léo khi đưa hình ảnh cây liễu mở màn cho bài thơ. Ở Việt Nam, liễu là một loài cây tiêu biểu của phuơng Bắc, một loài cây tiêu biểu của mùa thu. Tả liễu là tả tâm trạng buồn man mác, sự nuối tiếc mùa xuân của đất trời, mùa xuân của cuộc đời đã qua đi… Đưa liễu vào sắc thu, Xuân Diệu đã thể hiện được bao cái thanh cao, trong trẻo của tiết trời mùa thu. Trước Ông, hình ảnh cây liễu cũng đã khá quen thuộc trong thi ca Việt Nam, như Nguyễn Du viết “Lơ thơ tơ liễu buông mành” hay hình ảnh liễu trong thơ của Ngô Tất Tố “Đầu đường chợt thấy tơ liễu xanh / Hối để chồng đi kiếm tước hầu”.  

Mặc dù học tập hình ảnh ước lệ trong văn chương cổ, nhưng “liễu” của Xuân Diệu không có vẻ gì là vay mượn. Cảnh mang hồn của Xuân Diệ tuy quen mà lạ, tuy ước lệ mà lại rất cụ thể bởi cách liên tưởng sáng tạo và độc đáo: “đìu hiu đứng chịu tang”. Với nét bút mềm mại và khoáng đạt, nhà thơ đã đưa vào không gian dáng hình yểu điệu, lả lướt của những rặng liễu thả dài sóng tóc gội đầm đìa trong những cơn mưa lệ. Từ láy “đìu hiu” cùng với nghệ thuật láy âm “buồn buông”, “ngàn hàng”… đầy sức gợi. Câu thơ gợi cảm giác nhiều hơn là tả. Liễu buồn nhưng đẹp ảo não, thướt tha. Càng buồn, càng đẹp. Càng đẹp lại càng buồn. Cảnh thấm đậm tâm trạng khiến cho người đọc không khỏi vấn vương chút tơ lòng. Cái tài của tác giả là cảnh buồn nhưng không chết lặng mà có hồn.

phan-tich-bai-tho-day-mua-thu-toi-cua-xuan-dieu

Tín hiệu của mùa thu sang được nhà thơ thể hiện qua hình ảnh liễu đứng chịu tang, đìu hiu và lệ ngàn hàng. Bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa rặng liễu đứng ven hồ được ví von như một mĩ nữ với vẻ đẹp mĩ miều tha thướt. Đúng là một vẻ đẹp liễu yếu đào tơ. Tuy nhiên mĩ nữ ấy cao sang là vậy nhưng mang một nét buồn lãng mạn. Những cành liễu buông xuống hồ giống như là làn tóc dài mềm mượt của người con gái, rồi nó lại giống như những giọt nước mắt buồn của người con gái ấy. Vậy nên cao sang mà buồn, buồn nhưng lại đẹp. Rõ ràng liễu không giống như những giọt nước mắt mà ta cảm nhận được liễu đang khóc, để tang cho một mùa hè rực rỡ đi qua. Điệp ngữ “đây mùa thu tới” như thể hiện được một tiếng reo vui trước bước đi của mùa thu. Phong cảnh khởi sắc với màu áo mới đó là màu áo mơ phai chỉ có mùa thu mới có.

Đây mùa thu tới mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng”

Như vậy qua khổ thơ đầu, ta thấy rõ được những tín hiệu mùa thu đang tới, tác giả thì hân hoan vui mừng trước sự thay đổi của đất trời. Mùa thu đến cây lá đương xanh bỗng nhiên thay áo mới, nó khoác lên mình một chiếc áo với muôn nghìn lá vàng. Bằng con mắt quan sát tinh tế Xuân Diệu đã miêu tả những bước chân đầu tiên của mùa thu đến đẹp nhưng đượm buồn. Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của thi sĩ đã bắt kịp bức thông điệp của đất trời. Dường như giữa im lìm của vạn vật, chỉ một mình nhà thơ lắng nghe được bước chuyển rất nhẹ của thời gian. Câu thơ có giá trị như một lời thông báo, xác nhận sự hiện diện của thời gian. Trong một câu mà có tới hai lần “mùa thu tới”, thi sĩ như vội vàng, cuốn quýt thốt lên khi mùa thu vừa bước đến.

Như đã chờ đợi từ lâu, Xuân Diệu mở rộng lòng mình để đón thu. Xuân Diệu đã khoác lên mùa thu một chiếc áo vàng sáng rạng rỡ, kiều diễm và sang trọng. Không gian như òa sáng bởi màu vàng mơ đầy gợi cảm. Mùa thu đẹp, thơ mộng, cảnh sáng nhưng buồn thì cũng buồn vô tận.

Bức tranh chớm thu có đường nét mềm mại của liễu, có màu sắc, có tình người. Hình ảnh liễu cùng với màu áo mơ phai mở đầu đã gây một ấn tượng ban đầu cho người đọc để đến khổ thứ hai, mùa thu được cảm nhận tinh tế và đầy cảm giác:

“Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh

Những luồng run rẩy rung rinh lá

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”

Hoa vốn là biểu tượng của cái đẹp, thế mà mùa thu tới cái đẹp lại tàn phai rơi rụng, gây cảm giác tiếc nuối mất mát trong lòng người. Những cành hoa ấy đã rụng xuống, trong vườn được thay đổi bằng những màu đỏ vàng của cây lá. Động từ “rủa” thể hiện sự ngấm dần, gặm dần từng chút một màu xanh tươi của lá, thay vào đó là sắc đỏ vàng đặc trưng của mùa thu. Ta thấy nhà thơ miêu tả thật chính xác tinh vi quá trình chuyển hóa màu sắc. Qua đây người đọc cảm nhận được bước chân thu đi thật nhẹ nhàng, êm ái mà không kém phần bền bỉ mãnh liệt. Trong khi ấy những cái lạnh của thời tiết cũng được nhà thơ nhắc đến. Với biện pháp nghệ thuật điệp phụ âm đầu “run rẩy rung rinh” đã mang đến cho người đọc cái cảm giác se lạnh của mùa thu. Mùa thu đến cây cối đang xanh tươi tràn trề nhựa sống thay vào đó sự khô gầy, héo úa tàn tạ. Nó gợi lên một vẻ đẹp nhẹ nhàng mong manh của mùa thu. Nó giống như những bộ xương khô gầy yếu ớt và đơn độc. Nhà thơ cảm nhận mùa thu bằng thị giác, cảm giác, xúc giác. Dường như thi sĩ còn mang đến cho cảnh thu cái xôn xao run rẩy của lòng mình.

Loading...

Xuân Diệu đã sử dụng cách nói rất “Tây”: “hơn một loài hoa” và cách dùng từ rất táo bạo “rũa”. Đây là cách diễn đạt rất lạ với người đương thời và càng xa lạ hơn đối với những con người của thế kỷ trước như Nguyễn Khuyến. Thực chất, cách diễn đạt này là kết quả của một sự quan sát tỷ mỉ những biến đổi tinh vi của vạn vật ngay khi mùa thu vừa tới, ngay khi mới chỉ hơn một loài hoa đã rụng cành và khi màu đỏ trong vườn lấn dần màu xanh từng tý một. Thi nhân đã nhận ra, để rồi cùng hòa mình vào với cái lạnh của gió thu, lá thu, cây thu: “Những luồng run rẩy rung rinh lá – Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”. Xuân Diệu như đem đến cho cảnh thu cái giá lạnh của chính hồn mình.

Cái giá lạnh trong bức tranh thu này được Xuân Diệu diễn tả bằng những câu thơ mới mẻ, đặc sắc, đầy ấn tượng:

“Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

Non xa khởi sự nhạt sương mờ

Đã nghe rét mướt luồn trong gió

Đã vắng người sang những chuyến đò”.

Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa khiến hình ảnh nàng trăng hiện ra với khuôn mặt tròn đầy, tươi sáng nhưng lại vương một nỗi sầu ngẩn ngơ. Đó là sự tiếc nuối, vơ vẩn và mơ hồ. Trăng giống như một cô gái đẹp đang tựa cửa suy tư, ánh mắt trong veo nhìn vô định, ngẩn ngơ buồn giữa không gian xa và rộng. Sự xuất hiện hình ảnh trăng cô lẻ, thẩn thơ buồn, hình ảnh non xa nhạt nhòa, tạo cảm giác không gian quạnh hiu xa vắng, đặc biệt là chữ “vắng” càng giúp người đọc cảm nhận nỗi buồn vô cùng.

Cụm từ “non xa” gợi tả những dãy núi nhấp nhô, trùng điệp, vươn lên trong biển khói sương một cách mạnh mẽ thể hiện thông qua từ “khởi sự” cho thấy phong cảnh rất hùng vĩ, tráng lệ và thơ mộng. Lại tiếp tục một từ gợi hình “rét mướt” để nói lên không khí của mùa đông đang luồn vào những sợi gió của mùa thu. Và ở đây tác giả cảm nhận được sự giao thoa của ba mùa hạ – thu – đông.

“Đã nghe rét mướt” cũng là một cách diễn đạt rất hiện đại nhờ nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Một chữ “luồn” khiến cho cái rét được cụ thể hóa, được vật chất hóa, diễn đạt tinh tế cái rét đầu mùa còn chưa hiện nguyên hình, mà còn đang ẩn thân dấu mặt, len lỏi vào trong gió. Như vậy, cái lạnh của hơi thu đã thấm dần vào cảnh vật và con người, tạo nên cảm giác cô đơn. Cô đơn nên trăng cũng bơ vơ, đành tự ngẩn ngơ. Cô đơn khi nhìn thấy những bến đò bắt đầu quạnh vắng. Cô đơn vì thấy tất cả như nhuốm màu chia ly. Hai tiếng "đã nghe", "đã vắng" gợi tả cái không gian bao la, vắng vẻ của những buổi chiều thu với không khí se se lạnh. Chúng ta thấy có chuyển đổi cảm giác giữa xúc giác và thính giác. Sự cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉ bằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa. Như chính tác giả đang đứng giữa chiều gió thu, se se lạnh, chữ "luồn" đã cụ thể hóa cái rét, cảm nhận được nó bằng trực giác. Thu đang đến mà như đã sắp qua để nhường cho mùa xuân cận kề. Cảnh vật trong khổ thơ được miêu tả từ trên cao xuống dưới trong trạng thái lạnh lẽo tàn phai. Nó khắc họa bước đi nghiệt ngã của thời gian.

Trong bức tranh thu ấy không chỉ là ngoại cảnh mà còn là tâm cảnh nỗi buồn. Mùa thu vừa mới khởi sự mà thi nhân đã như nhìn thấy trước cái chung cực của nó. Đó là một cái nhìn rất Xuân Diệu, cũng như ông đã từng thấy đối với mùa xuân: “Xuân đang đến nghĩa là xuân đương qua – Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”. Thời gian là nỗi ám ảnh kinh khủng nhất đối với Xuân Diệu. Một con người ham sống, ham yêu như Xuân Diệu luôn lo sợ cùng với sự trôi chảy của thời gian, mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu cũng trôi đi mất. Tâm hồn luôn khát khao giao cảm với cuộc đời ấy luôn vội vàng, cuống quýt trước tất cả, luôn mang nỗi buồn chia ly ngay cả khi sự vật mới bắt đầu.

Khổ thơ cuối cùng mở ra nhiều hình tưởng gợi với những dư cảm. Khí thu thấm vào trong đất trời, khi nhìn lên, mây dường như cũng vơ vẩn, phiêu bồng, chim đi tìm chỗ ấm. Hận chia ly thấm vào trong vũ trụ để rồi ngưng lại, tụ đọng trong lòng người. Hình ảnh thiếu nữ tựa cửa sao mà đẹp, gợi cảm nhưng biết bao buồn. Nhìn xa xăm, nhìn hiện tại đang đi qua, nhìn tương lai sắp tới, dự cảm những điều gì? Thiếu nữ nghĩ ngợi gì khi xung quanh là mùa thu đang đến với nhịp chân, nhịp bước đầy xao xuyến, với những dự cảm tàn phai, hao gầy. 

“Mây vẫn từng không chim bay đi,

Khí trời u uất hận chia ly.

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”.

Hình ảnh có liên quan

Khổ thơ cuối là khổ thơ tuyệt đẹp nó hội tụ tất cả cảnh sắc thiên nhiên, mặt trời, chim muông và con người. Cảnh thì đẹp đấy nhưng lại mang một nỗi buồn vô tận, còn hơn cái lạnh tê tái của mùa đông, nỗi buồn này xuyên thấu lòng người. Đó là sự chia ly, sự chia lìa của cảnh vật, sự chia ly của con người. “Thiếu nữ buồn không nói”, “Khí trời u uất hận chia ly”. Lá đã đỏ, đò đã vắng, trời đã lạnh, vậy mà chim lại bay đi, để lại không gian mênh mông trống trải. Ta lại nhớ đến câu thơ “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” của đại thi hào Nguyễn Du. Cảnh đã nặng nền u ám, vậy mà lòng người còn uất hận, u uất gấp nghìn lần.

Hình ảnh con người xuất hiện ở khổ thơ cuối mang nhiều suy ngẫm và liên tưởng của tác giả: “Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói – Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”. Tác giả đang hỏi người, hay tự hỏi mình, hỏi nhân thế sao chữ buồn cứ nằng nặc bám theo dai dẳng đến vậy. Mùa thu nhẹ nhàng, tinh tế như người thiếu nữ. Con người khi thu đến thường chìm vào u uẩn, vẫn khao khát yêu đương đấy nhưng lại buồn không nói. Dường như nỗi lòng của những con người trong phong trào thơ mới đều có nỗi niềm chất chứa không biết ngỏ cùng ai như thế.

Mùa thu trong thơ Xuân Diệu thật đẹp nhưng cũng thật buồn, có chăng đây chính là sự khác biệt tạo nên một Xuân Diệu mà chúng ta biết đến. “Đây mùa thu tới” mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc neo đậu mãi.

“Đây mùa thu tới” có lúc sử dụng thi liệu ước lệ của thơ Đường nhưng kết thúc lại không giống thơ Đường, câu cuối của thơ Đường thường đóng lại, khép kín ý thơ từng bài. Nhưng ở đây, tác giả lại mở ra, khơi gợi ở người đọc một cảm hứng đồng sáng tạo. Nó để ngỏ dành cho sự liên tưởng, cảm nhận của từng người đọc. Bài thơ khép lại với hình ảnh những thiếu nữ buồn không nói và một câu hỏi tư từ “nghĩ ngợi gì?”. Đó là một nỗi buồn có duyên cớ và một câu hỏi đầy ý nghĩa. Cách kết thúc này đã mở ra những chân trời liên tưởng, cảm nhận riêng của người đọc.

“Đây mùa thu tới” là bức tranh thu động, bao phủ bởi một nỗi sầu cô quạnh, cảnh thu đẹp nhưng buồn và giá lạnh. Xuân Diệu đã mượn cảnh thu, sắc thu, màu thu, tiếng thu để gửi gắm những nỗi buồn. “Đây mùa thu tới” đã hoàn toàn thoát ly tính quy phạm trong văn thơ cổ, kết cấu tự do, dòng thơ chảy theo mạch cảm xúc, phong cách ngôn ngữ hiện đại. Bài thơ là tiếng nói của một cái tôi đầy cảm xúc, một cái tôi được giải phóng triệt để và có nhu cầu khẳng định mình bằng một tiếng nói riêng, một cảm nhận riêng và một cái nhìn riêng. Với những cảm nhận tinh tế, Xuân Diệu đã đem đến cho người đọc những một mùa thu hoàn toàn khác với những sắc thái thu đã từng biết đến. Chính tài năng này đã khiến cho Xuân Diệu trở thành “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục