T5, 04 / 2018 3:08 sáng | nguyenhongky1992

(Văn mẫu lớp 11) – Anh(Chị) hãy Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu. (Bài phân tích thơ của bạn Nguyễn Thị Lan trường THPT Bình Giang).

Chủ đề: Phân tích bài thơ “Vội Vàng” của Xuân Diệu

Bài viết:

            Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy”. Điều này càng đúng khi nói đến lĩnh vực văn học, xã hội thay đổi thì văn học cũng đổi thay. Nói đâu xa, phong trào Thơ Mới ra đời đầu thập niên 1930 là kết quả của sự thay đổi của xã hội. Dẫn đầu phong trào là một số nhà thơ tiêu biểu, đại diện của phong trào này là thi sĩ Xuân Diệu mà Hoài Thanh thường ví von là “Nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới”. Nổi tiếng với tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”, nhưng đáng kể nhất là bài “Vội Vàng” được ông sáng tác năm 1938 với ý thơ lãng mạn, ngòi bút khi gấp rút khi nổi loạn, thể thơ tự do bay bổng đã trở thành bài thơ mà nhiều thế hệ sau này vẫn mãi lưu truyền.

Nói đến “Vội Vàng”, thì phần hay nhất vẫn là khổ đầu và khổ cuối của bài thơ. Đây là hai khổ thơ mà cái tôi và niềm yêu sống mãnh liệt được thể hiện rõ ràng nhất; đồng thời đây cũng là những câu thơ được Xuân Diệu chỉnh chu với sự sáng tạo nhiều nhất mà thể thơ Đường luật đầy quy tắc không thể thể hiện hết được. Hãy bắt đầu với khổ đầu của bài thơ:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.”

            Khác rất nhiều với con người sống trong xã hội phong kiến, ở thời kỳ này, sự du nhập của văn hóa phương Tây (Pháp) đã nâng ý thức của con người lên một tầm cao mới. Những ước muốn, nhu cầu và cái tôi cá nhân được thể hiện rất rõ nét. Bốn câu thơ trong khổ thơ đầu thể hiện rất rõ điều này. Nhà thơ đã sử dụng những từ ngữ rất đắt giá mang đậm tính cá nhân như: “Tôi muốn”. Nhưng những mong muốn này lại rất không tưởng, vì Gió và Nắng là những hiện tượng thiên nhiên, với giới hạn của con người thì làm sao nhà thơ có thể Tắt Nắng và Buộc Gió được. Nhưng khi ta đi đến mục đích của những điều không tưởng này thì ta thấy Xuân Diệu là một tâm hồn rất yêu cái đẹp và đồng thời cũng muốn lưu giữ mãi cái đẹp ấy. Cuộc sống, tuổi thanh xuân của con người thay đổi rất nhanh chóng, bởi vậy, dù muốn hay không thì thời gian cũng sẽ làm phai nhòa tất cả. Không bằng lòng với quy luật của cuộc sống, nhà thơ vươn vai như thể mình có bàn tay vạn năng có thể xoay chuyển tình thế, biến điều không thể thành có thể.

Cái hay của khổ thơ này không phải là nội dung của nó mà chính là sự sáng tạo trong cách dùng từ ngữ đầy màu sắc cá nhân, đồng thời chuyển hóa hình ảnh thực thành hình ảnh tượng trưng để chỉ khát vọng của bản thân. Đó là mong ước “Tắt nắng” để màu đừng nhạt phai, “Buộc gió” để hương đừng bay. Là một người yêu cái đẹp và muốn níu giữ cái đẹp, ta cảm thấy tâm hồn thi nhân thật đẹp. Tâm hồn này làm ta liên tưởng đến một vị vua Pháp, thà để quân xâm lược tràn vào cung điện, để cung điện bị cai trị bởi kẻ thù chứ nhất quyết không dùng cách chống trả, mục đích cũng chỉ để bảo toàn vẻ đẹp của cung điện.

Đến với khổ thơ tiếp theo:

“Của ong bướm này đâyĐiểm neo tuần trăng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si.”

            Cùng với sự níu kéo ở khổ thơ đầu thì khổ thơ sau, nội dung đã được khái quát hơn, rõ ràng hơn. Với cách dùng điệp ngữ “Này đây” thì một loạt những hình ảnh tươi đẹp của cuộc sống được tái hiện qua con mắt của nhà thơ. Nào là ong bướm, hoa đồng nội, lá cành phơ phất, chim yến hót vang, … Giống như một bữa tiệc đầy hoa trái, có sắc có hương, tạo nên một thế giới đầy xuân phơi phới. Đoạn thơ thể hiện cái nhìn trẻ trung, trong sáng, yêu đời của nhà thơ.

“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;

Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”

            Tươi đẹp hơn là cái chớp mi của đôi mắt giai nhân, dịu dàng, thuần khiết. Thật không thể phủ nhận: “Xuân Diệu là ông hoàng thơ tình”. Bất cứ sáng tác nào của ông cũng đều tràn ngập yếu tố tình yêu. Thế nên, đối với vị thi nhân này, dù thời gian có trôi, thì cuộc sống lúc nào cũng sinh động và lãng mạn khi mỗi sáng thức dậy, đều có “Thần Vui” gõ cửa. Việc hình tượng hóa thiên nhiên (Thần Vui) và nhục thể hóa thời gian (tháng giêng), và sự ví von so sánh như “một cặp môi gần” là một hình thức rất mới trong thi ca. Đọc đến đoạn này, người ta cảm thấy ngạc nhiên đồng thời khâm phục trước việc sử dụng từ ngữ đặc biệt của thi nhân. “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;” Tháng giêng là tháng bắt đầu vào mùa Xuân, và cũng là thời điểm tình yêu lứa đôi nảy nở. Nhưng hình ảnh “ngon như một cặp môi gần” khiến người đọc lạ lẫm. Tháng giêng tại sao ngon, mà lại ngon như một cặp môi gần nữa. Rõ ràng, tình yêu đôi lứa đối với vị thi nhân này lúc nào cũng thi vị, rạo rực, đắm say và đầy lãng mạn.

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

            Nhưng vị thi sĩ này lúc nào cũng dẫn dắt người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và cũng khiến người đọc suy nghĩ: “Đã quyết định rồi sao lại không quyết đoán gì hết vậy?” đã sung sướng rồi tại sao lại không tiến đến luôn đi, mà còn dừng lại suy nghĩ, đang đi tự dưng lại dừng lại đột ngột. À thì ra, sự nuối tiếc của thi nhân lại ngập tràn trong hai câu thơ tiếp theo:

Loading...

“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,”

            Khi đọc đến đoạn này, ta tự nhiên lại thấy sự logic trong khổ thơ đầu và khổ thơ này. Ta cũng hiểu vì sao nhà thơ muốn “Tắt nắng” và “Buộc gió” để giữ mãi hương sắc mùa xuân. Tất cả chỉ rực rỡ ở độ xuân thì. Nhưng mùa xuân và tuổi trẻ lại ngắn ngủi. Con người chỉ có thể hưởng thụ cái tươi đẹp nhất của mùa xuân ở độ tuổi xuân thì thôi. Bởi vì biết được điều đó, nên nhà thơ lo sợ. Thế nên, khi xuân chưa tới thì đã lo nghĩ là xuân đang qua rồi. Tiếc nhớ mùa xuân ngay cả khi đang ở trong mùa xuân rực rỡ. Chưa hết tuổi trẻ nhưng lại lo tuổi già đã tới. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này:

“Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Điểm neoNếu đến nữa không phải rằng gặp lại.

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…”

            Nhận ra sự tồn tại của thời gian, và lúc này, nhà thơ mới buồn rầu suy tư, nhận thức được sự trôi đi của nó. Với một loạt sự nhận thức và lý giải bằng điệp từ “nghĩa là”, và cảm xúc đối lập diễn tả việc bình luận, xem xét vấn đề ở những mặt đối lập với hàng loạt “nhưng, nếu, nói làm chi”. Và quy luật Sinh-Lão-Bệnh-Tử là quy luật tuần hoàn của cuộc sống. Mỗi năm qua đi, mùa xuân đều tồn tại. Cuộc sống đều có những sự bất ngờ, xuân đến nhưng chưa chắc bản thân còn tồn tại nên thi nhân mới nói: “Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại”. Và rằng: “Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,” Cho nên, nhà thơ không chỉ tiếc mà còn đau khổ thở than, hờn ghen, lo sợ sự tàn phai, chia ly. Nỗi đau buồn bao trùm lên đất trời, trải dài suốt năm tháng, thể hiện trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi lúc.

phan-tich-bai-tho-voi-vang-cua-xuan-dieu

Sự đau xót càng dâng lên với câu kết thúc khổ thơ thứ hai: “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa …” như than oán, hờn trách cuộc đời sao nhanh trôi để thi nhân không kịp nắm bắt được nhiều điều.

Rõ ràng, sự vội vàng trong ý thơ của thi sĩ không phải lối sống vội vàng trong xã hội hiện đại ngày nay mà là sự vội vàng níu giữ những khoảnh khắc đẹp nhất của cuộc sống. Xuân Diệu thuộc thế hệ những người ham sống và sống sôi nổi, không giống như những thế hệ trước, lánh đời để tìm sự thanh thản trong tâm hồn, còn Xuân Diệu thì tích cực lăn xả vào cuộc sống và vồn vã rất nhiều với cuộc sống tươi đẹp này. Nhưng trong ý thơ thi thoảng vẫn có sự hoài nghi, tiếc nuối, đau khổ và có chút “suy đồi” trong lối suy nghĩ. Rất đúng với những gì ông đã tuyên ngôn trong một tác phẩm khác, Xuân Diệu chọn lối sống: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối/Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.” Ý thơ cũng bộc lộ tính cách con người tác giả. Sống gấp gáp và biết hưởng thụ cuộc sống. Vì cuộc sống tươi đẹp không chờ đợi ai, điều đó cũng phản ánh một lối sống tiến bộ hiện đại và đáng trân trọng.

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;”

Trong đoạn cuối này, nhịp điệu thơ mỗi lúc mỗi nhanh và hối hả, như thể chạy đua với thời gian. Đến nỗi nhà thơ phải thốt lên: “Mau đi thôi!” Một lần nữa, cái Tôi trong nhà thơ lại trỗi dậy. Điệp ngữ “Tôi muốn” lần này lại phát huy tác dụng. Với hơi thở gấp gáp, nhà thơ muốn thâu tóm tất cả những điều tươi đẹp nhất vào trong tay mình, nhà thơ “ôm”, nhà thơ “riết”, nhà thơ “say”, nhà thơ “thâu” tất cả cho “ngập tràn”, “chếnh choáng”, “no nê” trong đó. Có lẽ như thế mới thỏa mãn tâm hồn của nhà thơ.

Xuân Diệu – một hồn thơ lai láng, tràn ngập sắc màu, lúc nào cũng để lại cho người đọc những sự ngạc nhiên bằng những sự phá cách của mình. Và với “Vội Vàng”, thi sĩ muốn khuyên nhủ thế hệ trẻ sau này: Hãy biết dấn thân, hãy sống thật sôi nổi, sống hết mình, để cảm nhận hết những điều tươi đẹp nhất của cuộc sống này, để khi ra đi, không phải hối tiếc bất cứ điều gì. Vậy nếu là bạn, bạn đã sống được như thế chưa?

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục