T4, 11 / 2017 1:33 sáng | du

(Văn mẫu lớp 12) – Anh (Chị) hãy Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân. (Bài làm của bạn Hoàng Thị Thảo).

Đề bài: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

BÀI LÀM

    Nếu lịch sử là những trang giấy ghi lại một cách chính xác về những biến cố của dân tộc, về nạn đói khủng khiếp của nhân dân trong những năm 1945, 1954, thì văn chương lại là tiếng lòng thương cảm xót xa cho những số phận bất hạnh, bi thảm trong cảnh ấy. Nhưng dù cuộc đời có lầm than đến mấy, con người vẫn luôn khát khao một cuộc sống yên bình, hạnh phúc và không ngừng cố gắng vươn lên, hướng tới những điều lạc quan, tốt đẹp. Cái đói, cái khổ tưởng chừng như có thể lấy đi mạng sống của bất kỳ ai vào bất cứ lúc nào. Ấy vậy mà giữa hoàn cảnh nghìn cân treo sợi tóc, hai con người cùng chung số phận, cùng đứng trước ngưỡng cửa của tử thần đã mạnh dạn “nhặt” nhau về làm vợ làm chồng. Nhà văn Kim Lân đã dựng lại cảnh đó một cách rất chân thực và xúc động qua tác phẩm “Vợ nhặt”. Bằng tấm lòng cảm thương chân thành dành cho những người nông dân nghèo khổ, nhà văn đã viết nên một câu chuyện rất bi hài nhưng lại mang nhiều giá trị nhân đạo sâu sắc, khiến người đọc không khỏi xót xa.

Nạn đói khủng khiếp
Nạn đói khủng khiếp

    Câu chuyện đã tái hiện lại cuộc sống bi thảm của một xóm ngụ cư nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1954. Người sống và người chết nằm ngổn ngang lẫn lộn. Có lẽ vì đói quá, khổ quá, người ta chẳng còn xét đến cái chết nữa. Bất kỳ ai cũng có thể trở thành cái thây nằm còng queo bên đường. Cũng chẳng ai nghĩ đến việc may chay, chôn cất, vì chết lúc này là chuyện quá thường tình. Vậy mà, giữa lúc ấy, Tràng và thị lại dám “nhặt” nhau về. Họ đã cùng nhau bước qua bao nhiêu cái xác chết trong buổi chiều tà u ám, thê thảm của xóm làng. Dù biết rằng lấy nhau lúc này là vô cùng khó khăn, nhưng niềm khát khao cuộc sống, khát khao hạnh phúc đã vượt lên trên hết tất cả mọi nỗi sợ và sự lắng lo.

Từ đó, câu chuyện đã thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc mà nhà văn Kim Lân muốn gửi gắm, thể hiện niềm cảm thông đối với nỗi đau của con người, nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp cao quý, thuần khiết trong tâm hồn con người, và trao cho họ những khát vọng, những ước mơ cao đẹp về cuộc sống. Đồng thời, tố cáo tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã dồn nhân dân rơi vào nạn đói khủng khiếp, thê lương.

Loading...

Ngay khi mở đầu tác phẩm, Kim Lân đã bày tỏ niềm xót xa tột độ với những “bóng ma” “dật dờ”, “lặng lẽ” ở xóm ngụ cư nghèo. “Hai bên dãy phố úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa”. Đã thế “tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết” càng làm cho không gian thêm u sầu, ảm đạm. Dù không một lời nào thể hiện trực tiếp sự xót thương trong lòng tác giả nhưng những từ ngữ chân thật cùng hình ảnh gợi nhiều xúc cảm đã thay lời Kim Lân muốn nói. Bởi nếu không có sự đồng cảm, ông sẽ không thể nào tái hiện lại được cái cảnh thê lương ấy.

Từ sự xót thương, nhà văn đã phát hiện ra những ước mơ, những khát khao được sống hạnh phúc bên trong cái bề ngoài “dật dờ” thê thảm của bao con người đang đứng bên bờ vực thẳm. Ông đã dựng lên tình huống “nhặt” vợ rất kinh điển của Tràng và thị. Trong cuộc sống bình thường, trai chưa vợ, gái chưa chồng hẹn hò tìm hiểu nhau, lấy nhau là lẽ đương nhiên. Nhưng trong hoàn cảnh mà không một ai dám nghĩ đến chuyện yêu đương, việc “cưới xin” lúc này lại trở thành điều quá lạ lùng và xa xỉ. Thế nên, khi nhìn thấy Tràng cùng một người con gái lạ đi cùng nhau, mọi người trong xóm ai nấy đều bất ngờ, lạ lẫm. Bất chợt, một lời nói cay đắng vang lên: “Ôi chao! Giời đất này còn tước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không”. Và rồi “họ cùng nín lặng”. Cuộc sống phía trước tối tăm lắm, mịt mờ lắm. Ngay dưới chân họ là những cái xác đã chết vì đói, vì rét. Liệu có khi nào Tràng và thị cũng sẽ trở thành những cái xác như thế chăng? Cả hai đều hiểu rất rõ hoàn cảnh của mình, nhưng lòng khát vọng và tình yêu cuộc sống vẫn dẫn dắt họ đến với nhau.

Cuộc nhặt vợ hài hước, tình cờ
Cuộc nhặt vợ hài hước, tình cờ

Càng khổ bao nhiêu, nghĩa tình giữa người với người lại càng đáng quý bấy nhiêu. Dựng lên tình huống nhặt vợ gây cười, nhưng từ đó, giá trị nhân đạo của tác phẩm đã thể hiện và ngợi ca tấm lòng nhân hậu, quảng đại của người nông dân cùng khổ qua nhân vật Tràng và mẹ Tràng. Tràng tuy xấu xí, ngờ nghệch nhưng giữa lúc đói khát như thế, Tràng vẫn sẵn sàng đãi thị một chập bốn bát bánh đúc ngay trong lần đầu “hẹn hò”. Gọi là “hẹn hò” nhưng thực chất chỉ là sự tình cờ gặp mặt khi Tràng đẩy xe bò ngang qua thị. Và rồi cũng chỉ một lời bông đùa, thị theo Tràng về làm vợ thật. Khi Tràng chưa kịp nhận thức đây không phải là một trò đùa như lúc đầu Tràng nghĩ thì thị đã nghiễm nhiên đồng ý làm vợ Tràng. Dù vậy, Tràng vẫn dẫn thị đi ăn một bữa thật no nê, sắm cho thị cái thúng con con để đựng vài thứ lặt vặt. Trong cảnh đói khát cùng cực ấy, có miếng ăn đã là sung sướng lắm rồi. Ở đây, thị còn được ăn no nê. Điều đó càng thể hiện rõ Tràng là người rất nhân hậu, phóng khoáng. Còn thị, có thể nhiều người đặt câu hỏi vì thị đói quá nên mới theo Tràng. Nhưng sự nghi vực ấy đã được làm rõ trong ngày đầu tiên thị về làm dâu trong nhà Tràng. Bữa cơm đầu chẳng có gì ngoài nồi cháo loãng với rổ rau chuối thái rối. Hết cháo, cả nhà lại cùng chia nhau nồi cháo cám. Vị đắng xít nghẹn ứ trong cổ khác hẳn với bánh đúc mà Tràng đã mời thị ăn ngoài chợ. Nhưng thị vẫn ăn một cách ngon lành. Ai cũng hiểu, cũng cảm nhận được vị đắng và chát, họ lặng lẽ cảm nhận theo cách riêng của mình. Sau đó, thị đã mang một luồng sống mới tới gia đình Tràng, mang lại cho Tràng cảm giác “êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Quang cảnh trong nhà cũng thay đổi hoàn toàn. Sân vườn được quét dọn sạch sẽ, cái ang nước mọi khi để khô cong dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Cuộc nhặt vợ rất tình cờ và ngẫu nhiên nhưng lại mang đến sự thay đổi lớn cho cuộc đời Tràng và người mẹ già đã gần đất xa trời. “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà củ hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn nập trong lòng”. Không những thế, bà cụ Tứ, dù đã băn khoăn trăn trở rất nhiều trước người con dâu mới nhưng sau cùng bà cũng vẫn đón nhận và hướng con mình đến những điều tốt đẹp. “Cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

Cuối tác phẩm, Kim Lân đã trao niềm tin và hi vọng cho những người nông dân về ngày mai tươi sáng qua hình ảnh lá cờ đỏ phấp phới bay. Dù phải sống nghèo, sống khổ, sống chật vật, dù đang ăn bát cháo cám đắng xít cổ, nhưng trong lòng họ vẫn luôn tràn đầy hi vọng. Cảnh tượng mọi người phá kho thóc của Nhật, chia cho người đói sẽ sớm trở thành sự thật khi họ biết đồng sức, đồng lòng cùng nhau đứng lên đánh lại kẻ thù. Sự gian ác, bạo tàn của thực dân Pháp và phát xít Nhật sắp đến ngày kết thúc.

Trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao cũng tái hiện lại cuộc sống cơ cực của người nông dân trong cảnh nghèo nàn, túng quẫn. Xoay sở không được, họ bị cuốn vào vòng tội lỗi, đến nỗi bị tha hóa nhân phẩm, làm mất đi chính bản thân mình. Đến cuối tác phẩm, khi nhận ra được sự thiêng liêng của cuộc sống, thì nhân vật chính – Chí Phèo – lại quyết định tự kết liễu cuộc đời mình. Trong tác phẩm Vợ nhặt, Kim Lân cũng kể về tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc của nhân dân. Nhưng điểm sáng ở đây là họ không vì nghèo, vì đói, vì khổ mà làm mất đi những phẩm chất cao quý của ban thân. Ngược lại, họ vẫn luôn khát khao sống, luôn hướng mình đến những điều lạc quan, tốt đẹp. Chính vì thế, tình huống “nhặt” vợ được Kim Lân dựng lên rất tài tình, đặc sắc, mang lại tiếng cười hài hước cho người đọc, nhưng cũng lấy đi không ít nước mắt của những tấm lòng đồng cảm.

    Như vậy, tác phẩm đã thể hiện giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc. Đó cũng chính là tiếng nói của Kim Lân dành cho những kiếp người lầm than, cơ cực trong nạn đói khủng khiếp năm 1954. Ông vừa tái hiện lại cảnh tượng thê lương của xóm ngụ cư nghèo, vừa thể hiện niềm tin yêu và khát vọng được sống của người nông dân trong hoàn cảnh khó khăn tột độ. Đồng thời ngợi ca tấm lòng nhân hậu, quảng đại của con người trong mọi lúc mọi nơi.

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục