T6, 11 / 2017 1:36 sáng | du

(Văn mẫu lớp 12) – Em hãy Phân tích tình huống truyện độc đáo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.

Đề bài: Phân tích tình huống truyện độc đáo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

BÀI LÀM

     Ta đã từng biết đến những nỗi thống khổ của người nông dân trong xã hội cũ qua hình ảnh Chị Dậu của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao, Lão Hạc… Tất cả đều sống lay lắt, luẩn quẩn trong cái vòng nghèo đói, bị áp bực, bị bóc lột bởi chế độ thực dân phong kiến tàn ác bất nhân. Nhưng khi đến với Vợ nhặt của Kim Lân, vẫn là cảnh đói nghèo, vẫn là dáng dấp của những con nười cùng khổ, nhưng họ không đi vào ngõ cụt. Trong cuộc đời tăm tối của họ vẫn lóe lên những ánh sáng của niềm tin, của hi vọng vào một tương lai tươi sáng. Điều đó được Kim Lân thể hiện rất độc đáo qua tình huống truyện đầy nghệ thuật, vừa gây cười nhưng lại vừa tạo sự xót thương, đồng cảm cho người đọc.

    Câu chuyện bao quát cuộc sống của xóm ngụ cư nghèo trong nạn đói thảm khốc của Việt Nam những năm 1954. Người chết nằm la liệt bên lề đường. Không khí vẩn mùi ẩm mốc, hôi thối của xác chết chưa được chôn cất. Tiếng quạ réo càng làm không gian thêm não nề, tang thương. Ấy vậy mà, giữa lúc sự sống đang trong tình cảnh ngàn cân treo sợi tóc, con người ta chỉ nghĩ đến một điều duy nhất là cái ăn thì Tràng và thị lại nghiễm nhiên dành cho nhau những cái nhìn tình tứ, cùng dắt nhau đi qua bao xác chết để về ở chung một nhà, chung một mái ấm nhỏ bé, đơn sơ.

Tràng nhặt vợ

Trai chưa vợ, gái chưa chồng đến với nhau là lẽ đương nhiên. Nhưng trong tình cảnh này, cái đói đang lan tràn khắp nơi khắp xóm, không ai có thể nghĩ đến chuyện xa xỉ ấy thì hai con người cùng cực lại dám đưa nhau về. Có thể vì Tràng ngờ nghệch, ngốc nghếch, nhưng dù như thế nào đi nữa, Tràng cũng không ngốc đến nỗi không nhận ra cái đói đang càn quét dân làng, và mình cũng rất có thể sẽ trở thành một trong những cái xác nằm còng queo bên đường kia. Thị cũng vậy. Thị thừa hiểu vượt qua được cái tao đoạn này đã là một kỳ tích rồi, ai còn dám nghĩ đến việc yêu đương nữa. Mà thực ra thị với Tràng có được trải qua ngày nào yêu đương đâu. Tràng chỉ tình cờ đẩy xe bò đi qua thị, buông một câu bông đùa khiến thị bám miết theo Tràng. Và hẳn là thị cũng chẳng xác định gì chuyện hẹn hò trong tình cảnh này. Nhưng cứ ngồi đó vất vưởng cũng vô nghĩa. Có lẽ vì nghĩ như vậy, hai luồng tư tưởng đã Chậc kệ và đến với nhau như một sự tình cờ, ngẫu nhiên. Không đến với nhau cũng chết, thà đến với nhau, có phải cùng nhau chết thì cái chết cũng nhẹ nhàng hơn. Vậy là Tràng nghiễm nhiên nhặt được vợ, còn thị cũng may mắn nhặt được chồng. Hai tiếng vợ chồng tưởng chừng như là điều gì đó xa xôi lắm, nay lại đến một cách rất tự nhiên.

Đã thế, giữa cái đói cái khổ, Tràng còn hào phóng đãi thị một chập bốn bát bánh đúc liền. Trước khi về nhà, Tràng dẫn thị đi ăn một bữa no nê, mua cho thị một cái thúng con con để đựng vài thứ linh tinh. Không biết Tràng có nhiều tiền hay không nhưng hành động của Tràng đã thể hiện tình thương yêu và sự cảm thông sâu sắc tới người cùng cảnh ngộ. Trong cái hoàn cảnh hoang sơ, tiêu điều ấy, vẫn có những tấm lòng thật cao cả, đáng ngưỡng mộ.

Thị và Tràng đi bên nhau, vượt qua hoàn cảnh, bỏ qua lễ giáo gia phong của một lễ cưới truyền thống phải có đủ các bước mai mối, cau trầu sính lễ. Họ thấu hiểu hoàn cảnh của nhau, cùng nhau đi qua trước ánh mắt ngỡ ngàng, tò mò của xóm làng nghèo đói. Có lẽ khi cầm bút dựng lên tình huống này, Kim Lân cũng cảm thấy éo le lắm. Nhưng họ khổ nhiều rồi, nên tưới vào cuộc đời họ một chút ánh sáng để cái khổ đỡ lay lắt hơn, đỡ cơ cực hơn. Người đọc vẫn nhìn thấy rõ những nỗi khổ mà người dân phải chịu, vẫn đồng cảm xót xa, nhưng vẫn cảm thấy thoải mái vì trong bước đường cùng, họ không quẫn chí như Chí Phèo hay Lão Hạc, ngược lại, có một ngọn lửa tuy nhỏ bé nhưng cũng đủ sưởi ấm những mảnh đời lay lắt.

Loading...

Tuy gây cười, nhưng việc nhặt vợ của hai con người cùng khổ còn là sự lên án gay gắt tới những kẻ cầm quyền, tới giai cấp thống trị gian ác bất nhân đã đẩy người dân vào cảnh sống bần cùng. Không có cái ăn cái mặc chỉ là nỗi đau về thể xác, nhưng bị tước đi quyền mưu cầu hạnh phúc là nỗi đau lớn trong tâm hồn. Đến ngay cả việc yêu đương, việc dựng vợ gả chồng cũng trở nên xa xỉ, lớn lao. Nhưng lòng nhân ái của nhà văn đã dựng lên tình huống nhặt vợ đầy bi hài như một lời an ủi sâu sắc tới những con người đang nằm chờ chết bên lề đường.

Vợ nhặt
Vợ nhặt

Hoàn cảnh éo le, nhưng sức sống con người luôn bất diệt. Hơn nữa, khi càng đói, càng khổ, khi càng đến cái chết, họ lại càng nghĩ tới sự sống và càng hi vọng nhiều hơn. Bởi thế, cả Tràng và thị đã sớm dung hòa trước nỗi khổ chung, cùng nhau gánh vác mọi khó khăn. Bởi thế, trong ngày đầu về làm vợ, thị không ngỡ ngàng, cũng chẳng hối hận khi ban nãy thị vừa được đãi một bữa no nê mà nay khi về nhà, lại chứng kiến thảm cảnh thê lương của gia đình Tràng. Một bữa cơm ra mắt con dâu chỉ có nồi cháo loãng với bát rau chuối thái rối. Người mẹ đau lòng nhưng rồi bà cũng mừng vì ít ra con mình đến giờ này đã có vợ. Sự chấp thuận tưởng chừng như miễn cưỡng nhưng lại là sự đồng cảm lớn với người cùng cảnh là thị. Cái đói lấy đi mạng sống của nhiều người, nhưng chính cái đói đã mang thị và Tràng đến với nhau. Lòng người mẹ xót xa nhưng suốt bữa ăn bà giấu nỗi niềm tủi hổ, động viên con cái mình phấn đấu làm ăn cho qua cái tao đoạn này, rồi cuộc đời sẽ khấm khá hơn.

Họ nhìn nhau ăn, cùng nhau cảm nhận nỗi khổ, và cùng nhau hi vọng. Người ta vẫn nói, khi khó khăn được chia sẻ thì nỗi khổ sẽ vơi bớt đi nhiều. Đúng vậy. Nhưng sự thật nghiệt ngã vẫn không buông tha những con người cùng khổ. Nồi cháo cám xuất hiện trong sự hào hứng của người mẹ, nhưng lại đắng xít khi mọi người đưa vào miệng. Có một sự tủi hổ nhen nhóm trong lòng. Không ai nói với ai câu nào nữa. Họ đang âm thầm vượt qua trái đắng cuộc đời. Không cần phải nói, ai cũng hiểu nỗi thống khổ chung của cả gia đình lúc này, đó cũng là tình cảnh của toàn xã hội chứ không riêng gì ai. Thị chấp nhận, giống như mẹ Tràng cũng đã chấp nhận thị. Vì đói khát, vì khổ cực, họ đến với nhau. Nhưng vì lòng yêu thương và sự cảm thông sâu sắc, họ đã gắn bó với nhau ngay trong buổi đầu gặp gỡ.

Tình huống mà tác giả đặt ra thật éo le và trớ trêu.  Giữa cảnh đói khát, hai người nhặt nhau về. Buổi đầu làm dâu, bữa cơm thảm hại chỉ có rau chuối và cháo, thậm chí còn phải ăn cháo cám. Đang lúc tủi hờn, tiếng trống thúc thuế lại vang lên càng làm lòng người thêm não nề, lo lắng. Bà cụ vội ngoảnh đi lau nước mắt. Một bà cụ đã gần đất xa trời, đã trải qua bao cay đắng cuộc đời nay lại rơi nước mắt thêm một lần nữa. Những giọt nước ấy đã thay lời muốn nói của Kim Lân. Ông cảm thông và xót xa cho dân mình, đồng thời căm phẫn bọn thực dân ác độc đã đẩy nhân dân vào bước đường cùng. Nhưng càng khó khăn, sức sống trong con người lại càng trỗi dậy. Sau tiếng trống thúc thuế, sau giọt nước mắt đắng cay của bà lão là hình ảnh dân ta phá kho thóc của Nhật chia cho người nghèo, là hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay. Cái đói sắp đến ngày kết thúc. Nhất định nhân dân sẽ đứng lại dành lại quyền sống, quyền tự do của chính bản thân mình.

Tình huống truyện tuy không kịch tính, không làm người đọc hồi hộp nhưng đã khơi dậy sự đồng cảm trong lòng mỗi người dành cho những kiếp người lầm than. Qua đó, ngợi ca tinh thần lạc quan, yêu đời của con người trong hoàn cảnh khó khăn. Đó cũng chính là lý do vì sao tác giả đã đảo ngược tình huống truyện. Ông không kể theo thứ tự từ khi Tràng và thị gặp gỡ ra sao mà lại để cảnh hai người đưa nhau về nhà, sau đó mới kể lại diễn biến cuộc hội ngộ tình cờ và hài hước.

    Kim Lân đã rất thành công khi dựng nên tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật và đầy bi hài. Ông đã mang lại một làn sóng mới cho xóm ngụ cư nghèo, nhóm lên trong lòng họ những hi vọng, những khát khao được sống, được yêu, được hạnh phúc. Và trước hết, để đạt được điều đó, họ cần phải hợp sức nhau lại, cùng đứng lên đấu tranh, cùng dương cao lá cờ Tổ quốc.

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục