T2, 11 / 2017 7:20 chiều | du

(Soạn văn) – Anh (Chị) hãy Soạn bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên. ( Bài làm văn của bạn Nguyễn Thị Mai).

Đề bài: Soạn bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

BÀI SOẠN

TIỂU DẪN

Những nét chính về tác giả

  • Chế Lan Viên (1920 – 1989), quê ở Quảng Trị.
  • Ông từng là thầy giáo, nhà báo
  • Ông tham gia cách mạng tháng tám ở Quy Nhơn.
  • Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ và báo chí ở Liên khu IV và chiến trường Mình – Trị – Thiên.
  • Sau năm 1954, ông về Hà Nội tiếp tục hoạt động văn học.
  • Sau năm 1975, ông vào sống ở Thành phố Hồ Chí Mình, tiếp tục hoạt động văn học.
  • Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của văn học hiện đại Việt Nam,
  • Thơ Chế Lan Viên giàu chất sử thi, chất anh hùng ca và chất chính luận, có vẻ đẹp trí tuệ độc đáo.
  • Năm 1996, ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
  • Tác phẩm chính: Điêu tàn (1937), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thương chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972)…

Những nét chính về tác phẩm

  • Bài thơ Tiếng hát con tàu rút ra từ tập Ánh sáng và phù sa.
  • Bài thơ gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế – chính trị, xã hội: cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc vào những năm 1958 – 1960.
Tiếng hát con tàu
Tiếng hát con tàu

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Câu 1.

Hình ảnh con tàu và Tây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể còn có ý nghĩa biểu tượng:

  • Con tàu đi xa, đi đến những miền đất mới. Và con tàu của nhà thơ cũng chính là khát vọng được đi xa, được đến với những miền đất còn đang khó khăn, đang cần sự giúp đỡ của mọi người.
  • “Tiếng hát con tàu” còn là tiếng lòng của tác giả, là tình yêu, là nỗi nhớ về mười năm kháng chiến nơi Tây Bắc, là tiếng hát phơi phới tràn đầy niềm tin về một ngày mai chiến thắng cho hòa bình lại về trên quê hương Việt Nam.
  • Tây Bắc là vùng đất kỉ niệm của nhà thơ trong những năm dài kháng chiến. Tuy nhiên, Tây Bắc còn là hình ảnh biểu trưng cho nhiều vùng miền khác của đất nước, cho những nơi còn đang chiến tranh loạn lạc trong bom đạn, khói lửa.

4 câu thơ đề từ:

Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hóa những con tàu

Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng gọi

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Lời đề từ mang âm hưởng rất ngọt ngào, tha thiết, thể hiện tiếng lòng của tác giả và tinh thần hào hứng lên đường cứu Tây Bắc, cứu những nơi còn đang chìm trong chiến tranh.

Tác giả tự hóa thân mình vào con tàu để thể hiện khát vọng sẽ đi được đến nhiều nơi và chở đến đó những yêu thương, những quyết tâm đánh đuổi quân thù.

Câu 2.

Bố cục bài thơ có thể chia thành 3 phần như sau :

Phần 1: 2 khổ thơ đầu. Nội dung: Tiếng gọi “anh” lên Tây Bắc

Phần 2: 9 khổ tiếp theo. Nội dung: Tình cảm của tác giả với Tây Bắc và những kỉ niệm đằm thắm thiết tha về 10 năm kháng chiến ở Tây Bắc.

Phần 3: Niềm tin và khúc hát hăng say khi “anh” lên đường về với Tây Bắc.

Loading...

Bố cục đó thể hiện sự vận động tâm trạng của chủ thể trữ tình: Từ lời kêu gọi tha thiết mọi người cùng nhau lên Tây Bắc, nhà thơ đã nhớ lại những kỉ niệm thiết tha mặn nồng về khoảng thời gian gắn bó trong cuộc kháng chiến tại nơi này. Từ đó, ông hăng say và hào hứng lên đường với niềm tin yêu quyết chiến quyết thắng, quyết xây dựng một Tây Bắc tươi đẹp, để đất nước trở thành “suối lớn mùa xuân”.

Câu 3.

Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ :

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.”

Tác giả sử dụng những hình ảnh rất giản dị, chân thật và gần gũi với đời sống nhân dân. Hơn nữa, đây cũng là sự gắn bó của tự nhiên: nai gắn với suối, cỏ gắn với tháng giêng tháng hai, chim én với mùa. Đặc biệt hơn khi tình cảm ấy được ví với tình mẫu tử : đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Những hình ảnh này đều gợi lên niềm hạnh phúc vô bờ và cảm xúc dạt dào, da diết.

Khổ thơ đã thể hiện tình cảm chân thành và niềm vui lớn lao của nhà thơ khi được về gặp lại nhân dân.

Câu 4.

Hình ảnh của nhân dân trong kỉ niệm cảu nhà thơ được gợi lên qua những hình ảnh cụ thể :

  • Anh con, người anh du kích. Người anh ấy cũng nghèo khổ, cũng thiếu thốn, chỉ có duy nhất một chiếc áo nâu vá rách, nhưng “đêm cuối cùng, anh cởi lại cho con”.
  • Em con, thằng em liên lạc. Chú bé liên lạc dũng cảm, nhanh nhẹn và khôn khéo, suốt mười năm làm công tác đưa thư rất mạo hiểm nhưng chưa một lần nào làm mất một phong thư.
  • Mế. Hình ảnh mế bên bếp lửa hồng. Hình ảnh mế trong những đêm dài thức trông con đau ốm.
  • Nhớ người con gái mà nhà thơ đã yêu thương trọn trái tim mình.

Từng người, từng người hiện về trong ký ức của nhà thơ. Chẳng có bạc tiền, cũng chẳng có vật chất gì cao sang, nhưng mỗi kỷ niệm đều thấm đượm ân tình tha thiết, nặng sâu.

Câu 5.

Những câu thơ thể hiện rõ nhất chất suy tưởng và triết lý của thơ Chế Lan Viên:

  • “Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp” – triết lý về cuộc đời. Đời người rất nhỏ bé giữa đất nước này. Nhưng từ những điều nhỏ bé ấy góp lại đã làm nên một đất nước mênh mông.
  • “Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn !”

Sự gắn bó giữa con người với mảnh đất Tây Bắc dấu yêu. Dù không sinh ra và lớn lên ở đó nhưng bằng những ân tình mà nhân dân Tây Bắc đã dành cho cán bộ chiến sĩ, khiến người ra đi nhưng tâm hồn vẫn còn khắc ghi mãi về hình ảnh của Tây Bắc thân thương.

  • “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”.

Sự chân thành của tình yêu đã khiến cho con người trở nên gần gũi nhau hơn, quen thuộc hơn và gắn bó với nhau hơn. Tình yêu ấy đã xua tan mọi khoảng cách, ngăn trở.

  • “Mặt em hồng trong suối lớn mùa xuân”

Câu thơ thể hiện niềm tin vào ngày mai chiến thắng. Đất nước sẽ là “suối lớn mùa xuân” bình yên và ấm áp cho đàn em được vui sống hạnh phúc, vui vầy.

Câu 6.

Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên :

Chế Lan Viên đã dùng những từ ngữ rất chân thật, hình ảnh gần gũi, dễ hiểu và sáng tạo. Nhất là khi thể hiện tấm lòng của mình với nhân dân, nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh so sánh rất quen thuộc của tự nhiên.

Đồng thời, bài thơ giàu chất triết lý, suy tư về vận mệnh của đất nước, về nghĩa vụ quyết chiến quyết thắng của những người cầm súng đấu tranh giải phóng dân tộc.

Loading...
Bài viết cùng chuyên mục